30 thg 12, 2021

Cụ Ngô Đình Khả (1857-1924), Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quốc Huế

Cụ Ngô Đình Khả (1857-1924), Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quốc Huế.

Tiểu sử của ông Ngô Đình Khả
Micae Ngô Đình Khả, người là Đại Phong, (tên Nôm là kẻ đợi), xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, Quãng Bình. Dòng họ ở Quãng Ninh, Quãng Bình và thiên Chúa giáo từ thế kỷ 17, trong giây đoạn quân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ và Bắc Kỳ, khi phong trào “Văn Tây” sát tả ( nghĩa là: dẹp người Pháp, gi/ết người công giáo thì dòng họ Ngô Đình nhiều người bị hại. Cha Ngô Đình Khả là Ngô Đình Niêm phải đi về làng Đại Phong, Lệ Thuỷ cùng tình Quãng Bình.
Thời niên thiếu của Ngô Đình Khả được cha đi giúp lễ một vị linh mục ở Mỹ Duyệt Hạ, ông khả cùng với Nguyễn Hữu Bài được linh mục Caspar (Lộc) gởi đi học đại chủng học Pénang ( Mã Lai), sau một thời gia đi tu học trở về nước được phân dậy Đại chủng Viện Huế trong thời thử thách được chọn chức linh mục, sau thời gian dài vẫn không được ơn gọi rời từ viện về làm giáo dân và lấy vợ.
Năm Bính Tuất-1886 (triều vua Đồng Khánh), Ngô Đình Khả làm Thông Sự cho tòa Khâm sứ.
Tháng 10/Tân Mão-1891, (triều vua Thành Thái)
triều đình xét cho các Thông sự, Ký lục của tòa
Khâm sứ được mang phẩm hàm tương đương
của Nam triều, khi đó Ngô Đình Khả là Thông sự
hạng 2 được mang hàm Tri phủ.
Tháng 5 nhuận/Ất Mùi-1895, Tổng đốc Bình-Phú
Nguyễn Thân được sung Khâm mạng Tiết chế
quân vụ Đại thần coi việc tiễu phủ các hạt từ
Quảng Bình tới Thanh Hóa; ông Thân chọn các
Tán lý (Nguyễn Gia Thụy, Lê Khiết), Thương biện
(Ngô Đình Khả), Tán tương (Lê Văn Trung,
Nguyễn Kiện, Tạ Tương), Đề đốc (Văn Tiến
Hùng), ... đi theo mình. Cuối năm đó Phan Đình
Phùng bị bệnh chết, một số người ra đầu thú và
nghĩa quân tan rã.
Tháng 4/Bính Thân-1896, Thương biện Ngô Đình
Khả được thăng Thái thường Tự khanh, trong
thời gian này ông tham gia vào việc tổ chức thành lập trường Quốc Học dạy chữ Pháp đầu tiên ở Huế và đến cuối năm khi trường đi vào hoạt động, ông Khả được cử làm Chưởng giáo (tức là Hiệu trưởng). Sau đó, có lẽ là năm 1898 ông Edmond Nordemann (tên Việt hóa là Ngô Đê Mân) được cử làm Chưởng giáo, Ngô Đình Khả làm Phó chưởng giáo. (Kể từ đó cho đến năm 1945 chức Hiệu trưởng của trường đều do người Pháp đảm nhiệm)
Tháng 3/Canh Tý-1900, vua cho Ngô Đình Khả
sung làm Giáo tập dạy các hoàng đệ (ba hoàng tử Bửu Trang, Bửu Liêm và Bửu Lỗi), nhưng Khâm sứ Auvergne không đồng ý vì cho rằng để ông Khả làm Phó chưởng giáo trường Quốc Học thì có ích hơn. Đến cuối năm ông được tặng Kim
khánh hạng 2.
Tháng 12/Quý Mão-1904, vua sai Thượng thư bộ
Lễ sung Quản lãnh thị vệ Đại thần Ngô Đình Khả
đến phủ các hoàng đệ để giảng tập chữ Pháp.
Tháng 7/Bính Ngọ-1906, Ngô Đình Khả bị buộc
phải dời nhà thờ vừa mới dựng trong Kinh thành
ra làng Tiên Nộn, trước đó ông Khả đã xin được
chỉ dụ cho dựng nhà thờ trên nền của Linh Hựu
quán [nơi thờ Lão Tử, nằm ở phía bắc sông Ngự
Hà, phía tây Trấn Bình đài (Mang Cá) trong Kinh
thành. Vào năm 1884, theo tinh thần điều V của
Hiệp ước Patenôtre triều đình vua Hàm Nghi phải nhường Trấn Bình đài cho quân. Đến năm 1886, Toàn quyền Paul Bert lại ép triều đình vua Đồng Khánh nhường tiếp khu đất nằm giữa Trấn Bình đài và Linh Hựu quán để Pháp xây dựng thêm doanh trại, đồn bót, nhà thương, kho hậu cần...Vì thế mà quán bị phá bỏ, lúc bấy giờ có một số dân theo đạo Thiên Chúa đến sinh sống chung quanh doanh trại Pháp ở khu Mang Cá, lấy lý do giúp đỡ những giáo dân nầy về mặt tôn giáo, ông Ngô Đình Khả đã xin chỉ dụ cất một nhà thờ trên nền Linh Hựu quán để giáo dân có nơi đọc kinh sớm tối, lễ lạt ngày Chúa nhật], Khâm sứ Moulié lại cho là không tiện nên đề nghị dời ra ngoại thành, ông Khả chấp hành chỉ xin được cấp trả 300 đồng tiền công và Khâm sứ mới Lévecque đã đồng ý.
Tháng 7/Đinh Mùi-1907, vì vua Thành Thái không hòa hợp với chính quyền bảo hộ, nên Khâm sứ Lévecaue vê cầu các đai thần kí tên nhế truất.
Lévecque yêu cầu các đại thần kí tên phế truất
nhà vua, mọi người đều nghe theo trừ Ngô Đình
Khả. [Sáu năm sau, Nguyễn Hữu Bài không tham
dự vào việc đào bới điện Hòa Khiêm trong lăng
vua Tự Đức để tìm vàng, nên đương thời có
truyền tụng câu "bỏ vua không Khả, bới mả
khôn Bài". Khả: tức là Ngô Đình Khả không kí tên
phế bỏ vua Thành Thái và Bài: Nguyễn Hữu Bài
không dự việc đào bới lăng vua Tự Đức] Một tháng sau khi lập vua Duy Tân, Khâm sứ
Lévecque cho là Thượng thư bộ Lễ sung Quản
lãnh thị vệ Đại thần Ngô Đình Khả không làm tròn chức trách, buộc triều đình phải xử trí. Năm đó ông Khả mới 51 tuổi ta làm quan liên tục 22 năm, chưa đủ tiêu chuẩn để về hưu và hưởng hưu bổng (phải đủ 60 tuổi và làm quan liên tục 30 năm), phủ Phụ chánh xét thấy ông có nhiều công lao, nên tâu xin chuẩn cho ông được mang
nguyên hàm về quê trí sự và được cấp hưu bổng,
nhưng Lévecque không chịu, ông Khả bị cách
chức mà không được trợ cấp gì.
Tháng 12/Quý Sửu-1914 (triều vua Duy Tân), theo lời xin của phủ Phụ chánh, Ngô Đình Khả được khai phục nguyên hàm Thượng Thư và chiếu lệ cấp hưu bổng (miễn truy nhận).
Tháng 1/Quý Hợi-1923 (triều vua Khải Định), Ngô Đình Khả mất được truy tặng hàm Hiệp tá Đại học sĩ.
Theo sổ bộ hôn phối của Giáo xứ Phủ Cam, vào
năm 1887 Micae Ngô Đình Khả lập gia đình với bà Mađalena Chĩu qua đời. Dên nam 1889, ông khả tục Huyền với bà Anna Phạm thị Thân. Họ lân lượt sinh 9 người con, gồm 6 trai và 3 gái:
1. Ngô Dinh Khôi (1893-1945) là con trưởng, bị xử t/ử 6-9-1945.
2. Ngô Đình Thị Giao (1894-1946)
3. Ngô Đình Thục (1897-1984)
4. Ngô Đình Diệm (1901-1963)
5. Ngô Đình Thị Hiệp (1903-2005)
6. Ngô Đình Thị Hoàng (1904-1959)
7. Ngô Đình Nhu (1906-1963)
8. Ngô Đình Cẩn (1910-1964)
9. Ngô Đình Luyện (1914-1988).
Nguồn: Đại Nam Thục Lục - chính biên đệ lục Kỳ, Quốc sử quán Triều Nguyễn.
Biên soạn: By Thái Sơn

PT Tường Minh 01