Trong
tử vi 14 chính tinh chi phối rất mạnh mẽ trên toàn bộ các lá số. Mấu chốt của
việc luận đoán là cần phải nắm được bản chất và đặc tính của 14 chính tinh. Nắm
bắt được ý nghĩa của 14 chòm sao đồng nghĩa với việc mỗi chúng ta có thể tự
mình đọc được cơ bản ý nghĩa của từng cung mệnh trong lá số tử vi. Thông qua những
cơ sở này, mới có thể hiểu rõ ý nghĩa của chúng khi vào 12 cung trong lá số tử
vi. Dưới đây là ý nghĩa cơ bản của 14 chính tinh:
1.
SAO TỬ VI
Sao
Tử Vi thuộc Thổ, đây là sao chí tôn trên bầu trời, Nam Bắc đẩu, hóa Đế Tọa, chủ
Quan Lộc.
Tử
Vi nhập cung Mệnh, người có khuôn mặt mặt dài vuông vắn hoặc tròn trịa, sắc tím
hoặc trắng xanh. Nữ mệnh Tử Vi, da trắng mịn, hơi béo, vẻ ngoài đoan trang,
nhìn vào là tướng quý phu nhân. Họ có vẻ ngoài trung hậu, ổn trọng dày dạn,
khiêm tốn chính trực, sở hữu khí chất tôn quý, là người rất có năng lực lãnh đạo,
quan hệ ngoại giao rộng rãi nhưng sau khi đạt được thành công thì tính tình lại
có sự bảo thủ nhất định. Người có Tử Vi nhập Mệnh đều là những người học rộng,
tri thức uyên bác, lời lẽ lại có phần nghiêm nghị, lời nói xử sự lễ tiết, luôn
gây cho người khác cảm giác có thể tin tưởng. Người này rất coi trọng danh lợi,
khi mưu cầu theo đuổi điều gì thì thái độ hết sức tích cực nhiệt tình, nhưng một
khi đạt được mục đích rồi thì lập tức trở nên lạnh nhạt không để ý đến nữa. Đôi
khi họ lại có tánh khí cao ngạo tự cao tự đại, hay làm ra vẻ, một mặt tình cách
cố chấp, mặt khác lại rất dễ bị lay động bởi lời nói của người khác, đây cũng
là một trong số những đặc trưng vốn có của người có Tử Vi nhập Mệnh.
Sao
Tử Vi có năng lực chế hóa, nghĩa là có thể làm tăng cái tốt đẹp đồng thời giảm
thiểu đi những cái xấu xa, dữ hung tinh đồng cung hay gia hội thì có thể làm giảm
thiểu tính hung. Sao Tử Vi là sao đại cát, tượng là bậc quân vương, hoàng đế. Sở
dĩ là bậc quân vương nên cần có văn thần võ tướng ở bên hầu cận. Nếu Tử Vi dữ
Thiên Phủ, Thiên Tướng, Lộc Tồn, Thiên Mã, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc,
Thiên Khôi, Thiên Việt, Tam Thai, Bát Tọa, Long Trì, Phượng Các, Ân Quang,
Thiên Quý, Thai Phụ, Phong Cáo… đồng cung hoặc gia hội thì rất phú quý.
Bởi
sách xưa có viết: “Tử Vi ngộ Thiên Phủ, Tả Hữu, Xương Khúc, Lộc Mã tam hợp cực
cát, thực lộc thiên chung, cự phú đại quý.” Tử Vi đặc biệt thích Hóa Quyền, hội
Tả Hữu hoặc Xương Khúc, chủ quyền quý, nếu không có cát tinh tương trợ thì gọi
là “cô quân”, chỉ là một nhân viên làm công ăn lương.
2.
SAO THIÊN CƠ
Sao
Thiên Cơ thuộc Mộc, Nam đẩu đệ tam tinh, hóa khí là Thiện, chủ Huynh Đệ.
Thiên
Cơ nhập cung Mệnh, người có thân hình vừa phải, trung bình, nhập miếu thì béo,
lạc hãm thì lại tương đối gầy, thông thường duy trì ở trạng thái béo vừa phải.
Hội cát tinh, đây là những người có tâm tính hiền lành, hiếu nghĩa với lục
thân, có một vẻ ngoài đoan chính ổn trọng, luôn hành sự có phương pháp. Tính
cách của người có sao Thiên Cơ nhập Mệnh tương đối gấp gáp, khả năng ứng biến
linh hoạt cơ động trong mọi tình huống, đầu óc phản ứng mẫn thiệp, tốc độ nói
khá nhanh, cuộc sống lao tâm. Là người ham học hỏi kiếm tìm tri thức, đa học đa
năng, nhưng khi làm việc gì chỉ nên chuyên tâm vào một thứ thì tốt hơn. Có niềm
hứng thú, sự yêu thích đặc biệt đối với triết học, tôn giáo và các sự vật mang
tính chất huyền bí.
Thiên
Cơ tại Mệnh, chỉ cần không hội các hung tinh đồng cung, thì là người trọng tình
cảm, lấy việc giúp người làm niềm vui, là người thẳng thắn bộc trực. Người có
Thiên Cơ tọa Mệnh tương đối giỏi giao tiếp ngoại giao, giỏi lên kế hoạch, phân
tích lập luận chắc chắn, túc trí đa mưu, hành sự đúng mực, có năng lực trong
lĩnh vực thiết kế sáng tạo. Thiên Cơ là một sao động, điều đó có nghĩa họ thường
hay suy nghĩ nhiều, đứng núi này trông núi nọ, vì vậy thường có xu hướng không
bám sát vào thực tế. Hội sao xấu thì có tật mê cờ bạc.
Nữ
giới có Thiên Cơ nhập Mệnh tính tình cương cường, thường là người nắm quyền
trong nhà. Song tính tình lại hiền lành, chăm chỉ hiếu thuận, cơ trí linh hoạt,
hay suy nghĩ, thái độ đối với người khác luôn hào phóng nhiệt tình, nếu được
cát tinh thủ chiếu thì vượng phu ích tử, có Quyền Lộc thì là bậc quý phu nhân.
3.
SAO THÁI DƯƠNG
Sao
Thái Dương thuộc Hỏa, Nam Bắc đẩu tinh, tượng là mặt trời, chủ quan lộc.
Thái
Dương chủ quý, sau mới đến chủ phú. Người nam chỉ cha, con trai; người nữ chỉ
cha, chồng, con trai. Do ánh sáng của mặt trời thay đổi theo 12 canh giờ, cho
nên Thái Dương ở cung Dần cũng tựa như mặt trời vào giờ Dần, Thái Dương ở cung
Mão tựa là mặt trời vào giờ Mão, lần lượt theo thứ tự như vậy.
Thái
Dương nhập Mệnh, người có sắc mặt đỏ hồng hoặc tím hồng, khuôn mặt vuông vắn
hay tròn trịa, thân hình khôi ngô tuấn tú, vẻ ngoài đường hoàng, là người trung
thành chính trực, hào phóng, không tính toán chia ly, không dây đến chuyện thị
phi, tấm lòng nhân từ thiện lương, thích giúp đỡ người khác, chí khí cao ngạo
nhưng lại thường bị người khác hiểu nhầm.
Thái
Dương được cát tinh thủ chiếu, nếu được Thái Âm đồng cung thủ chiếu thì phú quý
song toàn. Nếu hội nhiều cát diệu thì có thể làm khách thường lui đến những nơi
quyền quý, còn khi không có cát tinh thủ chiếu, thì chỉ thuộc tầng lớp nhân
viên nhà nước bình thường. Thái Dương lạc hãm, lao tâm phí lực, tuy Hóa Quyền
Hóa Lộc cũng chủ vất vả khác thường, Thái Dương lạc hãm nếu như vào cung Quan Lộc,
là người có địa vị không hiển đạt, trước chăm chỉ sau lười nhác.
Nữ mệnh
Thái Dương, có chí hướng trượng phu, có cương lẫn nhu, là người phụ nữ giỏi
giang. Họ có cá tính háo thắng, duyên với người khác phái tốt, là người nhiệt
tình hướng ngoại, giao thiệp rộng, thường hay giao du với nam giới. Miếu vượng,
vượng phu ích tử, hội Quyền Lộc được phong tặng (đất đai, chức hiệu), cung Phúc
Đức có cát tinh chủ sẽ lấy được người chồng thông minh sáng suốt.
4.
SAO VŨ KHÚC
Sao
Vũ Khúc thuộc Kim, Bắc Đẩu đệ lục tinh, hóa Tài, chủ Tài bạch.
Vũ
Khúc thủ Mệnh, đa phần là người cương cường quả quyết, tâm tính ngay thẳng
không dụng tâm, dáng nhỏ nhưng giọng nói cao khẩu khí lớn, ưa thích các loại thể
thao vận động. Đây là những người trọng nghĩa khí, ý chí kiên cường bất khuất,
đề cao chữ tín, lời lẽ hào sảng quả quyết, mặt chữ điền.
Nữ mệnh
Vũ Khúc, một đời vất vả lao lực, trong nhà đoạt quyền chồng, thích ra lệnh, coi
thường chồng. Sau hôn nhân khó ở yên trong nhà, hay ra ngoài làm việc. Vũ Khúc
nhập Miếu chỉ quyền quý, có thể là một quý phu nhân, hội cát tinh thì lại quả
quyết cương nghị, dễ bề trở thành người phụ nữ cứng rắn. Hãm địa có sát tinh
thì cô đơn, hình phu khắc tử, thậm chí có khả năng trở thành quả phụ. Nếu lại hội
thêm Xương Khúc Thiên Diêu Đào Hoa hay Liêm Trinh thủ Thân, không những hình khắc
mà còn đào hoa tính nặng. Vũ Khúc và chư hung tinh hội tụ gây nên họa, cùng chư
cát tinh thì thành cát. Đây là sao cương cường, chủ cô khắc, hợp với nam, không
hợp với nữ. Nữ mệnh có sao này thì gọi là Quả túc tinh, hội Dương Đà Hỏa Linh,
bất lợi cho hôn nhân, hình khắc.
5.
SAO THIÊN ĐỒNG
Sao
Thiên Đồng thuộc Thủy, Nam Đẩu đệ tứ tinh, hóa Phúc, chủ Phúc Đức.
Thiên
Đồng là một phúc tinh, tại 12 cung đều luận là phúc, có tác dụng chế hóa giải
tai ách. Người có Thiên Đồng tại Mệnh, khuôn mặt hình vuông tròn, hai má đầy đặn
mềm mại, tính tình ôn hòa thiện lương, xử sự khiêm tốn lễ độ, nhân từ cương trực,
là người tinh thông văn họa, có chí lạ. Nhập miếu thì thân hình béo, lạc hãm
thì thân hình trung bình hay lùn. Cái phúc của Thiên Đồng biểu hiện ở việc họ
có chút lười biếng, đặc biệt là trong cuộc sống thường ngày, chuyện gì cũng lười
vận động, có thể kéo dài thì sẽ không rút ngắn, thế mới có câu những người lười
có cái phúc lười, nó mang ý nghĩa là ngồi hưởng thành quả ở sâu bên trong. Tuy
nhiên họ lại có lí tưởng rất cao, thường suy nghĩ rất chu đáo kỹ lưỡng về chuyện
tương lai, nhưng lại thường không thực hiện hành động nhiều, thậm chí có đôi
khi sẽ trở thành kẻ nói suông. Vì vậy nên Thiên Đồng hỉ có sát tinh kích thích,
như vậy sẽ khơi dậy được năng lượng của Thiên Đồng để làm nên chuyện.
Ưu
điểm của người có sao Thiên Đồng tại Mệnh là ở tính tình lạc quan, không câu nệ
tiểu tiết của họ, vì lẽ đó ở bên ngoài họ hay được lòng nhiều người, được nhiều
người quý mến. Có hứng thú với nhiều thứ, biết cách khiến mình hài lòng mà sống
vui vẻ, rất ít khi tức giận, không để bụng những chuyện hận thù, không gây thù
chuốc oán, là người hài hước, có thể tự tạo niềm vui cho mình. Khuyết điểm là
thường hay trốn tránh những công việc nặng nhọc, làm việc hay băn khoăn, suy
nghĩ nhiều, nên đôi khi làm vụt mất cơ hội tốt đã đến sát bên mình.
Thiên
Đồng thủ Mệnh dù ở cung nào, tính tình cũng đều ngây thơ, có lúc giống như một
đứa trẻ. Thiên Đồng nhập Mệnh, bất luận nam hay nữ, đa phần sẽ trông béo tốt,
mũm mĩm, khả năng tự hạn chế bản thân khá kém, vì vậy rất dễ bị thế giới bên
ngoài cám dỗ. Nữ mệnh Thiên Đồng, khuôn mặt xinh xắn, hơi béo, da trắng, đối xử
thân thiết với mọi người, sau trung niên thì béo. Nam mệnh Thiên Đồng đơn thủ Mệnh
cung thì lại có chút yếu đuối dễ bắt nạt.
6. SAO
LIÊM TRINH
Sao
Liêm Trinh thuộc Mộc, Hỏa, Bắc Đẩu đệ ngũ tinh, hóa khí là Tù tinh, chủ Quan Lộc,
hỉ nhập cung Quan Lộc, ở Mệnh Thân cung, là thứ đào hoa.
Người
có Liêm Trinh nhập Mệnh, sở hữu thân hình trung bình, khỏe mạnh cường tráng.
Lông mày rậm mắt to, gò má cao, mồm lớn, mặt chữ điền. Họ có trí nhớ rất tốt,
tính cách lại cao ngạo sơ cuồng, là người cứng rắn thẳng thắn, cố chấp, đa phần
thường tự cho mình là đúng, bỏ ngoài tai lời khuyên của người khác. Tuy nhiên
trong công việc lại siêng năng chăm chỉ, tình cảm trong họ mãnh liệt, yêu thích
sự tự do, thích phát biểu đôi câu công bằng đạo lý nơi chỗ công cộng. Tính tình
thích phân tranh hơn thiệt, khi bất đồng quan điểm với người khác thì sẽ ngay lập
tức phản bác đôi co. Quan hệ xã giao có đôi lúc không tốt. Nữ mệnh Liêm Trinh tọa
Mệnh cung, có khí chất tốt, luôn gây cho người khác cảm thấy giác bị thu hút, sỡ
hữu cơ thể đẹp, ngũ quan đoan chính thanh tú, chính trực, làm việc già dặn,
tính tình lại khá cương nghị.
Trên
đây chỉ là những đặc tính bình thường của Liêm Trinh, cần phải phối hợp thêm với
các sao khác để có kết luận cuối cùng, vì Liêm Trinh có thể âm nhu cũng có thể
dương cương. Đồng cung với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang hoặc đồng cung với
Dương Đà Hỏa Linh Tứ Sát, hoặc đồng cung với Hóa Kỵ thì biểu hiện rất rõ các
tính chất trên, là những người có tính tình ngang ngạnh, lòng báo thù lớn, gấp
gáp nông nổi, dễ tranh chấp hơn thua với người khác, sự dương cương được thể hiện
rất rõ. Nhưng nếu Liêm Trinh đồng cung với Thiên Tướng, Thiên Phủ, Văn Xương,
Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt hay Liêm Trinh Hóa Lộc thì lại ngược lại, biểu
hiện ở đặc tính âm nhu, là những người chăm chỉ ổn trọng, tích cực cầu tiến,
dám làm dám chịu, đối xử với mọi người ôn hòa thân thiết, tuy cũng có cao ngạo
đôi phần nhưng thường không thể hiện ra bên ngoài. Nếu như hung cát tinh hỗn tạp
thì nửa âm nửa dương, vừa chính lại vừa tà, yêu ghét khó phân định.
7.
SAO THIÊN PHỦ
Sao
Thiên Phủ thuộc Thổ, đứng đầu trong chòm nam đẩu tinh, hóa Lệnh tinh, chủ tài bạch,
điền trạch.
Người
có Thiên Phủ nhập Mệnh sẽ sở hữu tướng mạo thanh kỳ, thân hình trung bình, mặt
chữ điền, dáng người béo tốt đầy đặn. Là người ôn hòa, đứng đắn, ổn trọng, tinh
thần viên mãn, có tình nghĩa và tự cảm thông, không câu nệ tiểu tiết, có nhiều
bạn bè tri kỉ, dễ dàng gây dựng được sự tin tưởng của người khác, hay được quý
nhân tương trợ trong cuộc sống. Thiên Phủ có tâm thái bằng lòng yên vị với cuộc
sống hiện trạng, ở họ luôn thiếu sự khai sáng và xung kích lực, tinh thần phấn
đấu luôn đến một mức độ nào đó rồi cũng sẽ lười biếng từ bỏ. Tuy nhiên đây là
người có dục vọng về quyền lực, yêu thích tiền bạc, thích sự sung túc hưởng lạc,
hội lục cát tinh, trung hậu lương thiện trọng tình cảm, có thể đảm nhận các
công việc quan trọng về tài chính kinh tế hay làm quản lý.
Nữ mệnh
Thiên Phủ, có khí chất của quý phu nhân, thân thể hơi béo, sau trung niên đa phần
thân hình mập mạp. Ở họ luôn tìm thấy sự dịu dàng, cảm thông, là người ổn trọng,
không xử trí theo cảm tính, hành sự lý trí, giỏi xử lý các quan hệ ngoại giao.
8.
SAO THÁI ÂM
Sao
Thái Âm thuộc Thủy, Nam Bắc Đẩu tinh, tượng là mặt trăng trên trời, hóa Phúc,
chủ Tiền Bạch, Điền Trạch.
Thái
Âm chủ Phú, sau mới chủ Quý. Người nam thì ứng với mẹ, vợ, con gái; người nữ
thì ứng với mẹ, con gái. Thái Âm tại Mệnh thay đổi ánh sáng theo thời gian, như
Thái Âm ở cung Tý tượng trưng cho mặt trăng vào giờ Tý, Thái Âm ở giờ Dậu tượng
trưng cho mặt trăng ở giờ Dậu, lần lượt suy tiếp.
Thái
Âm nhập Mệnh cung, có khuôn mặt vuông tròn, thân hình trung bình, hơi béo, làn
da trắng sáng. Là người dịu dàng, thanh tú cương trực, thông minh tuấn tú, sở hữu
khí chất tốt, đoan chính, luôn hành xử khiêm tốn lễ độ, cư xử thỏa đáng trong
giao tiếp quan hệ, có suy nghĩ tinh tế, biết cách tránh được xung đột từ chính
diện, xử lý khéo léo các mối quan hệ. Bất luận miếu hãm, đều có sự tu dưỡng về
phương diện văn học nghệ thuật, văn hay chữ tốt, học nhiều đa năng. Ưa sự sạch
sẽ, là người theo chủ nghĩa duy mỹ, thường chú ý đến sự thú vị của cuộc sống.
Ưu thích yên tĩnh, có niềm hứng thú đặc biệt với triết học, tâm lý học, mỹ học,
thần bí học, thích trầm tư, suy nghĩ kĩ càng, giàu trí tưởng tượng, tư duy siêu
thực, thậm chí nhiều lúc có xu hướng đa sầu đa cảm. Đa phần họ thường có những
tưởng tượng về cuộc sống rất lãng mạn. Nam nữ đều có duyên hấp dẫn người khác
giới, dễ phạm đào hoa.
Nam
mệnh Thái Âm phong lưu hào phóng, là người nho nhã, trực tính gấp gáp, dễ thân
thiết với nữ giới, cử chỉ có lúc bị nữ tính hóa, ẻo lả, đồng cung với sát tinh
thì không nhất thiết như vậy. Nữ mệnh Thái Âm mắt ngọc mày ngà, dung mạo đẹp đẽ,
mềm mại như thương, khiến nam giới phải đắm say.
9.
SAO THAM LANG
Tham
Lang thuộc Thủy Mộc, Bắc Đẩu đệ nhất tinh, hóa Đào Hoa Sát, chủ họa phúc.
Nhập
miếu là người béo đứng thẳng, xương mày cao, lạc hãm thì thấp nhỏ, giọng nói có
âm lượng lớn. Tham Lang nhập Mệnh, là người vô cùng tình cảm hóa, tính cách
tương đối phức tạp, không ổn định, luôn hiếu động, giỏi giao du kết giao bạn
bè, bản tính là người lạc quan. Có niềm đam mê dục vọng vật chất, thích ăn uống
hưởng thụ, rượu chè cờ bạc trai gái. Đây là những người không câu nệ tiểu tiết,
đường tình cảm thăng trầm xảy ra nhiều biến động, có lúc khôn vặt, thích cho
người khác những ân huệ nhỏ. Khẩu tài lưu loát, là người khoe khoang, thích thổi
phồng mọi chuyện, khuynh hướng hào nhoáng mà không thực, có thể bàn luận về nhiều
chủ đề. Có tâm lý ăn may rất lớn, thích
mạo hiểm, thử thách và luôn hi vọng kì tích có thể xảy ra, trong công việc thường
không có sự kiên nhẫn. Đối với tiền bạc lại khá rộng rãi hào phóng, thậm chí có
thể nói là lãng phí, vì vậy một đời tài vật nhiều hư hao. Luôn tìm kiếm sự kích
thích mới lạ trong cuộc sống, chán ghét những cảnh bình thường, không hài lòng
với hiện trạng, luôn hi vọng có sự đột phá trong công việc, vì vậy mới sinh tật
xấu làm việc không đến nơi đến chốn. Tham Lang thủ Mệnh thích thuật thần tiên,
thích nghiên cứu và tìm hiểu thảo luận về văn hóa thần bí khí công tăng đạo.
Người
có Tham Lang nhập Mệnh, bất luận nam hay nữ, trừ một số ngoại lệ cá biệt, tuyệt
đại đa số đều có số đào hoa. Nữ mệnh, gợi cảm, sớm trưởng thành, thân thể phổng
phao có sức thu hút với người khác giới, tính dục cao, chí cao tính cương, giao
thiệp rộng.
10.
SAO CỰ MÔN
Sao
Cự Môn thuộc Thủy, Bắc Đẩu đệ nhị tinh, hóa Ám, chủ thị phi.
Người
có sao Cự Mộn nhập Mệnh thường có ánh mắt sắc bén, miệng nổi bật, mặt vuông
tròn, nhập miếu thân hình to béo, đôn hậu thanh tú, lạc hãm thì ngũ đoạn (tay
chân cổ…) gầy nhỏ, giọng cao mà tốc độ nói nhanh. Họ có cử chỉ và cách hành xử
khá tùy tiện, không chú ý đến lễ tiết. Tuy nhiên là người ăn nói tốt, hội cát
tinh, thường thích hợp làm những công việc sử dụng kỹ năng nói là chủ yếu, giỏi
trong việc xử lý các mối quan hệ công cộng, lời lẽ luôn có phần giả dối, hay thổi
phồng, có thể nói người này là nhân tài trong việc ngoại giao. Cuộc sống vốn vất
vả, cần phấn đấu sẽ có thành tựu. Thường không hòa thuận với người khác vì vậy
một đời thường hay rước lấy thị phi khẩu thiệt, quan hệ giao tế không tốt, dễ
làm tổn thương người khác. Có khả năng phân tích và liên tưởng xuất sắc, vốn có
tài biện luận, không cảm thấy hài lòng với hiện trạng, tính tình khá ngoan cố,
tự tin, không quá tin tưởng người khác, tâm lý nghi ngờ lớn, việc gì cũng phải
tra hỏi rõ ràng, thích có được những thông tin đích thực rút ra từ thực tiễn.
Không
coi trọng những tình tiết trong cuộc sống, cuộc sống vật chất chỉ cần sống được
là sống, thích nghiên cứu học vấn kĩ thuật, học nhiều mà tinh thông ít, có những
kiến giải đặc biệt với những gì quan sát được, kĩ tính, lòng dạ sắt đá, tự tư tự
lợi, khả năng cảm thông kém, suy nghĩ quá nhiều vì vậy làm việc luôn do dự
không dứt khoát.
Bụng
dạ hẹp hòi, thích làm lớn những vấn đề nhỏ, khi nói chuyện thường vô tình đắc tội
với người khác, cũng thích bắm chặt không tha những khuyết điểm sai lầm của người
khác, thiếu sự khoan dung.
Khi
lợi ích của bản thân bị xâm phạm thì bất luận chuyện lớn hay bé đều nổi trận
lôi đình, hơn nữa cũng dễ gây hiểu lầm cho người khác, một đời thị phi không dứt,
tranh chấp trong tối ngoài sáng liên miên, rất nhiều kẻ tiểu nhân, khó mà có thể
sống những ngày tháng yên bình.
Nữ mệnh
Cự Môn, lòng tự tôn cao, mẫn cảm đa nghi hẹp hòi, bụng dạ nhỏ hẹp, ngang ngạnh,
tự cho mình là đúng, làm việc có trách nhiệm, yêu thích tiền bạc, tính cách đa
phần không tốt.
11-
SAO THIÊN TƯỚNG
Sao
Thiên Tướng thuộc Thủy, Nam Đẩu đệ ngũ tinh, hóa Ấn, chủ Quan Lộc.
Thiên
Tướng nhập Mệnh, chủ tướng mạo đôn hậu, chín chắn, sắc mặt trắng xanh hoặc vàng
nhạt, khuôn mặt vuông tròn, Thân hình trung bình, nhập miếu đầy đặn béo tốt,
thích ăn nhậu, vật chất đầy đủ.
Ăn
nói chân thực, không giả dối, thấy người khác khó khăn thì động lòng xót xa, thấy
kẻ ác thì bất bình. Lời lẽ cẩn thận, suy nghĩ chu đáo, có lòng chính nghĩa.
Quan hệ xã giao tốt đẹp, đối xử với mọi người chân thành, khiêm tốn lễ độ, giúp
đỡ mọi người thường xuất phát từ tấm lòng chứ không tính toán chuyện báp đáp.
Lòng
dạ lương thiện, ôn hòa, khoan dung, làm việc chăm chỉ, có năng lực quản lý và xử
lý nghiệp vụ tốt, có thể hi sinh lợi ích bản thân để phục vụ đại cục. An phận
thủ thường, một đời nhẫn nhịn chịu khó, một lòng trung thành, thích hợp làm các
công việc phò trợ người khác. Sao Thiên Tướng có những đặc tính tốt đẹp như
trên, vì vậy được mọi người yêu quý.
Người
có Thiên Tướng nhập Mệnh có khuyết điểm là việc gì cũng quá cẩn thận, suy nghĩ
quá nhiều, thiếu sự thực tế và sự khai thác, bằng lòng với hiện tại, vì vậy
thích hợp làm các công việc thư ký hay phía hậu trường.
Không
quá giỏi kinh doanh là một trong số đặc tính của Thiên Tướng. Nếu kinh doanh tất
là thương gia lương thiện. Người Thiên Tướng thật thà, không giỏi dùng mưu dùng
kế, có lúc quá tin tưởng người khác, cơ hội đến nhưng không nắm bắt ngay nên
thường lọt vào tay người khác.
Nữ mệnh
Thiên Tướng, dịu dàng hướng nội, nội tâm tốt đẹp, dung mạo đoan trang ổn trọng,
da dẻ nhẵn nhụi, lễ phép nhã nhặn, không tính toán với người khác, không quá
coi trọng sự nghiệp, không thích khoe khoang và bàn chuyện không đâu, thích ở
lì trong nhà. Thích hợp cùng chồng dạy con, là vợ hiền mẹ tốt, vật chất như ý.
12-
SAO THIÊN LƯƠNG
Sao
Thiên Lương thuộc Thổ, Nam Đẩu đệ nhị tinh, hóa Ấm, sao chủ Thọ.
Thiên
Lương tọa Mệnh, chủ người có vẻ ngoài ổn trọng khiêm nhường, từng trải, từ bi,
gương mặt dài vuông, xương gò má cao, lưng hơi gù, hơi béo. Thanh tú, thông
minh chính trực, là người chính trực không tư lợi. Hay lo chuyện thiên hạ, lấy
việc giúp đỡ người làm vui, hay giúp đỡ những người kinh tế khó khăn.
Quang
minh lỗi lạc, gặp chuyện thì quyết đoán, xử lý việc luôn đứng trên lập trường
công bằng, không thiên vị, thận trọng, có phong thái của người lớn tuổi, thường
nhận được sự kính trọng của mọi người, thích khoe khoang, thường giúp người
khác giải quyết tranh chấp, nhưng cũng gặp hiểu lầm, làm ơn mắc oán.
Người
có sao Thiên Lương nhập Mệnh thì tâm tính nhân nghĩa từ bi, có sự nghiên cứu và
hứng thú với y học thuốc thang, đặc biệt có duyên bẩm sinh với trung y, đông dược,
thuật số tôn giáo. Tính tình thanh cao, coi thường chuyện tiền bạc, đối với
chuyện tiền bạc không quá tính toán chuyện được mất.
Có
tài cán, lòng dạ rộng rãi, có điều tính háo thắng, có dục vọng về quyền lực và
dục vọng lãnh đạo, đa phần thường có vài phần ngạo mạn, vẻ mặt người ở trên
cao, phẩm hạnh của người già. Tư tưởng chính thống, kiên trì với nguyên tắc,
không chịu dễ dàng chấp nhận sai sót khuyết điểm của bản thân.
Nữ mệnh
Thiên Lương, dung mạo đoan trang, mắt dài mũi thẳng, ôn hòa chính trực, sống trọng
tình nghĩa, trong nhu có cương, nhiệt tình, thích giúp đỡ người khác.
Nhập
miếu hội cát tinh, nhiều tài nghệ, phú quý song toàn. Hội Xương Khúc, có tài
hoa văn nghệ. Hội Tả Hữu, chính trực khoan dung trung hậu, giúp người làm vui,
cùng chồng dạy dỗ con cái. Hội Dương Đà Hỏa Linh, cô khắc, rước thị phi, không
thuần khiết.
13-
SAO THẤT SÁT
Sao
Thất Sát thuộc Hỏa, Kim, Nam Đẩu đệ lục tinh, là Tướng tinh, hóa Đế vi Quyền
Người
có Thất Sát nhập Mệnh, mắt to, xương mày nổi bật, mắt có vẻ uy nghiêm, khuôn mặt
vuông dài hoặc gầy dài, có nếp nhăn, trên mặt có nhiều vết đốm hoặc rỗ. Thân thể
có thương tích, nhập miếu béo, lạc hãm thì gầy nhỏ, vẻ ngoài tháo vát pha lẫn sức
khỏe.
Hành
vi phóng khoáng ngang tàng, không câu nệ tiểu tiết, tốc độ đi nhanh. Cá tính vô
cùng hiếu thắng, quật cường cứng rắn, có sự tự chủ độc lập, có khí khái bất khuất,
tính tình dữ dội, dễ nổi cáu, hỉ nộ ái ố thể hiện trên khuôn mặt.
Không
thích bị người khác can thiệp ràng buộc, sự độc lập lớn, dũng cảm, có dũng khí
và sự thực hành, đối mặt với khó khăn sẽ dũng cảm tiến về phía trước, tuyệt đối
không sợ hãi. Là người thích đầu cơ mạo hiểm, không sợ không làm được, chỉ sợ
không nghĩ ra, trong cuộc sống là kiểu người khai sáng tiến công.
Có
mưu lược, có năng lực lãnh đạo thống lĩnh tốt, chỉ có điều tính tình quá gấp
gáp, thường bực tức, dễ coi cấp trên là vô dụng, nên có tâm lý phạm thượng, đối
với cấp dưới, bạn bè thì tương đối khoan dung. Thành bại một đời thường đến rất
đột ngột, bất luận nam hay nữ, đều phải trải qua khó khăn mới có thành tựu.
Nữ mệnh
Thất Sát, tính tình hướng ngoại, hoạt bát hào phóng, có khí chất, tính cương,
làm việc già dặn, có tinh thần trượng nghĩa, thích giúp người, thuộc loại hình
của công việc, không có hứng thú gì với chuyện làm vợ hiền mẹ tốt, sau khi kết
hôn tất đoạt quyền chồng, chồng phải nghe lời vợ.
14-
SAO PHÁ QUÂN
Sao
Phá Quân thuộc Thủy, Bắc Đẩu đệ thất tinh, hóa Hao, chủ phu thê, tử tức, nô bộc.
Phá
Quân nhập Mệnh, lưng dày, mày khoan, eo nghiêng, tiếng nói sắc bén, động tác
nhanh, không coi trọng lễ nghĩa, thích ăn vặt, thái độ thiếu ổn trọng. Nhập miếu
thân hình ngũ đoản, hơi béo, hãm địa cao gầy, phá tướng hay mặt có lốm đốm.
Cá
tính đặc biệt, kiêu ngạo, không khuất phục hay chịu sự quản thúc của ai, hỉ nộ
vô thường, thích ham muốn hưởng thụ vật chất, thích săn bắt thú, tính tình
cương cường, thích tranh đấu, quan hệ xã giao không tốt, đặc biệt thích góp vui.
Phá
Quân chủ người hành động độc đoán, tự cho mình đúng. Cư miếu vượng, bản tính
nghiêm khắc có tài thao túng, là người cương cường có chủ kiến. Nhập hãm địa
thì tính tình dữ dội dễ dẫn đến cực đoan.
Yêu
ghét phân minh, là người thiên tính cố chấp, ý thức chủ quan mạnh, là điển hình
cho chủ nghĩa cá nhân, đa phần thuộc kiểu người tự tư tự lợi, lòng dạ hẹp hòi,
gian trá xảo quyệt. Sự hiếu kì lớn, làm việc gì cũng dựa vào hứng thú nhất thời,
khó có sự bền chí đến cùng, thiếu kiên nhẫn, thường bỏ dở giữa chừng.
Lời
nói và việc làm tùy hứng bất chấp mọi thứ, cử chỉ khoa trương, cuồng ngạo đa
nghi, tính khí cứng rắn, tự ý tổn thương người khác, có tính phá hoại, thích
dùng vũ lực giải quyết vấn đề, coi cái xấu là tốt, việc giúp người là xấu, lấy
ân báo oán, đối nhân xử thế thường mang ý thù địch, với người thân thì vô nhân
nghĩa, khó có thể hòa nhập chung sống, thậm chí lục thân như nước với lửa, thường
trở mặt với bạn bè, một đời dễ kết oán với người khác.
Không
chịu cảnh nhàn rỗi, có tinh thần khai sáng và tâm lý hên xui mạnh mẽ, thích đầu
cơ mạo hiểm, mơ ước chỉ qua một đêm trở nên giàu có. Nữ mệnh Phá Quân, một đời
vất vả, tuy lầm lì nhưng hiếu động, lòng tự tôn lớn, khó có thể vui vẻ dài lâu,
thích ăn vặt, có khuynh hướng thần kinh, dễ làm ngược lại, tính tình chanh chua.