30 thg 7, 2022

Hướng dẫn Cúng Rằm tháng 07 năm 2022

HƯỚNG DẪN CÚNG RẰM THÁNG BẢY NĂM 2022
Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu những sự tích liên quan đến tháng Cô hồn xá tội vong nhân, Vu lan báo hiếu, mùa mưa Ngâu Ngưu Lang Chức Nữ và một số phong tục của người Việt nhân dịp này.

1. SỰ TÍCH VỀ NGÀY XÁ TỘI VONG NHÂN 

Theo "Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh" mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: "Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên"

A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là "Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni", đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là "thả quỷ miệng lửa", về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành "tha tội cho tất cả những người chết". Vì vậy, ngày nay mới có câu : "Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân".

2. SỰ TÍCH LỄ VU LAN BÁO HIẾU 

Vu Lan Bồn Kinh chép lại: “Thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, trong số 10 đại đệ tử của ngài có một vị tôn giả tên Mục Kiền Liên. Sau này Mục Kiền Liên đắc quả A La Hán thoát khỏi nghiệp sinh tử và có pháp lực thần thông cao cường. Trước khi Mục Kiền Liên tu thành chánh quả, cha mẹ của ngài đều đã mất sớm và trở thành quỷ đói bị đoạ vào địa ngục. Sau khi đắc đạo, Mục Kiền Liên muốn báo ân phụ mẫu bèn dùng thiên nhãn quan sát khắp nơi, thấy song thân ngài đang bị giam hãm dưới âm ty với hình dạng quỷ đói hết sức đáng sợ: bụng to như núi, mà cổ họng chỉ nhỏ như cây kim, không thể ăn uống gì được, thân thể hai người chỉ còn da bọc xương mà thôi.

Mục Kiền Liên thấy vậy vô cùng đau xót bèn cầm một bát thức ăn dùng thần lực mang xuống âm phủ cho mẹ, nhưng thức ăn vừa đưa sát miệng liền hoá thành tro bụi. Mục Kiền Liên đành chịu bất lực, vội đi bái kiến và thuật chuyện của mình cho Phật Thích Ca nghe. Đức Phật nói: “Cha mẹ ngươi thời còn sống đạ tạo ra vô số tội lỗi, cho nên sau khi chết phải bị đoạ vào địa ngục làm quỷ đói để chịu quả báo, một mình ngươi không thể đủ sức cầu độ cho họ được, mà phải dựa vào uy lực của tăng chúng mười phương mới mong giải thoát nổi. Vào ngày rằm từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, tất cả tăng chúng đều cùng tụ họp tinh tiến tu hành, đến ngày rằm tháng 7 thì kết thúc và trong ngày này sẽ có nhiều tăng chúng đắc chánh quả. Ngày ấy, nếu ngươi muốn cứu song thân khỏi khổ quỷ đói, phải cúng dường cơm chay cho tăng chúng, như vậy công đức rất lớn, không những việc làm đó có thể giải thoát cho song thân ngươi khỏi khổ quỷ đói, mà thậm chí còn có thể khiến 7 kiếp của song thân người còn được hưởng phúc trên trời. Giá như cha mẹ ngươi còn tại thế, thì việc cầu cúng ấy cũng có thể khiến họ được thêm phúc đức và trường thọ”. Mục Kiền Liên làm theo lời Phật dạy, quả nhiên cha mẹ của tôn giả thoát được kiếp quỷ đói và siêu thăng”. Phật cũng dạy rằng: chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu-Lan-Bồn Pháp). Từ đó, ngày lễ Vu-lan ra đời.

3. SỰ TÍCH MƯA NGÂU 

Đó là câu chuyện tình của Ngưu Lang và Chức Nữ. Ngưu Lang là người nông dân trần thế, còn Chức Nữ là thần tiên con gái thứ bảy của Ngọc Hoàng. Hai người nên duyên vợ chồng khi Chức Nữ hạ phàm tắm trong rừng vắng, bị Ngưu Lang giấu mất y phục, khiến nàng không thể bay được lên trời.

Hai người sinh con. Trong một lần chồng đi vắng, Chức Nữ vô tình tìm thấy bộ cánh của mình trong bồ thóc, thương nhớ mẹ cha, nàng bèn lắp cánh bay về thiên giới. Ngọc Hoàng biết chuyên rất giận nhưng cũng đồng ý cho cha con Ngưu Lang lên trình diện một lần. Sau đó Chức Nữ sai đàn quạ đen đưa chồng con trở về hạ giới. Do ham ăn, lũ quạ lỡ làm rơi cha con Ngưu lang khi gần tiếp đất.

Chức Nữ ngày đêm thương nhớ, bèn xin vua cha cho chồng con chuyển hẳn lên trời. Ngọc Hoàng đồng ý nhưng luật thiên đình không cho thần tiên lấy người hạ giới nên Vương Mẫu Nương Nương phẩy tay vạch một dòng sông Ngân hà, cho hai cha con ở bên kia, mỗi năm được đoàn tụ một lần vào ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch, gọi là ngày Thất tịch. Đến ngày này, lũ quạ đen phải đội đá bắc cầu (gọi là cầu ô thước) để chuộc lỗi năm xưa. Vì vậy, hàng năm vào những ngày này, nỗi niềm thương nhớ rơi xuống thành mưa, mưa Ngâu có từ chuyện đó.

4. TỤC CÚNG RẰM THÁNG 7 CỦA NGƯỜI VIỆT 

Cứ đến dịp này, người ta lại trở về quê để thắp hương cho tổ tiên nguồn cội. Các dòng họ ở miền Trung thường tổ chức tế lề lớn vào dịp rằm tháng bảy với nghi thức vô cùng tôn nghiêm, lễ vật kỳ công dâng cúng vì họ cho rằng “cả năm được rằm tháng bảy, cả thảy được rằm tháng giêng”. Đây là văn hóa uống nước nhớ nguồn của dân tộc, cần phải giữ gìn và phát huy bản sắc.

Bên cạnh việc cúng tôn thần, tổ tiên vào rằm tháng bảy, người dân nước ta còn có một mâm cúng cô hồn để an ủi tảo sa tảo lạc. Hoạt động này là một sự mở rộng thuyết Phóng diệm khẩu của Trung Hoa, đem tình thương của người trần thế mà đối đãi với những vong hồn không nơi nương tựa, phiêu bạt kỳ hồ, không hề phân biệt, đồng thời mong muốn họ sau khi thụ hưởng lễ vật thì đừng quấy gia môn, lưu phước lưu ân cho tín chủ.

Bên cạnh đó, nhà chùa cũng tổ chức nhiều lễ cầu siêu cho các gia đình, bao gồm cả tổ tiên dòng họ, cho đến oan hồn tử nạn và cả thai nhi đoản mệnh. Sự kết hợp đạo và đời đã làm tính chất của tôn giáo và dân tộc được hòa quyện hơn, nâng giá trị nhân văn lên một tầm cao mới.

5. THÁNG BẢY NĂM NHÂM DẦN 2022

Tháng bảy năm nay rất tốt, nhiều sự tương trợ sẽ xuất hiện, trên tất cả mọi lĩnh vực, cho cả nền kinh tế và riêng mỗi cá nhân đều nhận được điều may mắn. Nhiều người được lên chức, không ít người tìm được vận hội tốt hoặc thoát khỏi cảnh khó khăn. 

Phỏng theo tục lệ, nửa đầu tháng bảy, người dân nước ta thường cúng cô hồn, cúng gia tiên dòng họ và thực hiện các nghi lễ báo hiếu sinh thành. Đó là những tín ngưỡng và đức tin tốt. Tuy nhiên, không nên quá sùng tín các quan điểm dân gian tới mức cực đoan, dẫn đến những kiêng kỵ không đáng có, làm lỡ cơ hội.

6. HƯỚNG DẪN CÚNG RẰM THÁNG BẢY

BÀI CÚNG

Muôn ngàn kính lễ!

- Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư Vị Tôn Thần

- Đương Niên Hành Khiển Chí Đức Tôn Thần

- Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát

- Đức Thập Điện Diêm Vương

- Đức Mục Kiền Liên Tôn Giả

- Đương Cảnh Thành Hoàng Bản Thổ Đại Vương, Bản Gia Táo Quân, Phúc Đức Chính Thần, Long Mạch, Địa Mạch, Tài Mạch, cùng các vị Thần Linh cai quản xứ này, các vị tiền chủ hậu chủ.

- Cao cao tằng khảo, cao tằng tổ tỉ, tổ tỉ hiển khảo, cô di tỉ muội, bá thúc huynh đệ, nội viên ngoại gia dòng họ…………….

Chúng con là:………………………………….sinh sống tại……….

Phỏng theo lệ cũ:

Nhân dịp Trung nguyên, Ngài Diêm vương mở Quỷ Môn Quan, Đức Mục Kiền Liên vu lan báo hiếu, chúng con sửa soạn hoa đăng, trà quả, kim ngân tài mã, chay mặn lòng thành, dâng lên trước án tại số nhà…………………

Chúng con kính mời:

- Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đức Thập Điện Diêm Vương, Đức Mục Kiền Liên Tôn Giả, Đương Cảnh Thành Hoàng Bản Thổ Đại Vương, Bản Gia Táo Quân, Phúc Đức Chính Thần, Long Mạch, Địa Mạch, Tài Mạch, các vị Thần Linh cai quản xứ này, cùng các vị tiền chủ hậu chủ;

- Chúng con kính mời gia tiên tiền tổ, liệt tổ liệt tông dòng họ…..chi phái……;

Cùng hiển linh, giáng phó đàn tràng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.

Chúng con thiết nghĩ:

- Người trần tục được Trời, Đất, Phật, Thánh, Thần, Tiên, Tông Tổ dẫn đường; Vong linh có Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát và Thập Điện Diêm Vương cai quản. Chúng con sinh nơi trần thế, tuệ cạn chướng sâu, nghiệp dày phúc mỏng, được sinh sống, công việc như ngày hôm nay là nhờ ân trên che chở, tiên tổ độ trì và đức hi sinh của các bậc tiền nhân mới được như vậy. Chúng con nào dám quên ơn.

- Nay đường trần chưa tỏ, đường âm chưa thông, có điều gì sơ suất xin được lượng thứ bỏ qua, đồng thời hướng dẫn chỉ bảo để chúng con tiến bộ.

Nhân dịp Trung nguyên, Ngài Diêm vương mở Quỷ Môn Quan, Đức Mục Kiền Liên vu lan báo hiếu, chúng con xin được:

- Bày tỏ tấm lòng tôn kính, tri ân với các bậc bề trên, mong các Ngài tiếp tục hộ quốc an dân, mang lại phúc khí cho non sông xã tắc. Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng kính nhớ tri ân với các bậc tiền nhân đã hi sinh vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, các anh hùng liệt sĩ và gia tiên các dòng họ. Xin nguyện cầu cho các tất cả mọi hương linh được siêu thoát an lạc, tương trợ cõi trần.

- Chúng con lại nghĩ, cây có gốc mới nở ngành xanh cội, nước có nguồn mới bể cả sông sâu, ai người sinh trưởng bởi đâu, ngẩng trông tiên tổ trên đầu thương yêu. Chút lòng thanh bạch dâng lên, mặn chay, trà quả… tỏ niềm tâm can.

- Đồng thời, cúi xin các Ngài và gia tiên phù hộ độ trì cho toàn thể gia đình chúng con được mạnh khỏe, đoàn kết, sáng tạo, thịnh vượng, an lạc về tinh thần, yên ổn về thân thể, sáng suốt về trí tuệ, thành đạt về công danh, chuyển họa vi phúc, chuyển tai vi tường, một tấm lòng thành, cúi xin cẩn tấu!

CHUẨN BỊ 

- Nhang, đèn, hoa, quả, xôi, gà, gạo, muối, bánh kẹo, chè cháo, kim ngân tài mã...
- Rùa, chim, cá...
- Ngày tốt để cúng: 12, 14, 15 tháng 7 âm lịch
- Tốt nhất là cúng ở quê nhà, tốt nhì là cúng tại gia, thứ ba tại chùa. Nếu không thể làm tại ba nơi trên, thì chỉ cần ngồi nơi tĩnh lặng, tưởng nhớ tổ tiên, cảm ơn trời đất cũng đủ để thần linh chứng giám.

PHÓNG SINH GIẢI HẠN 

- Viết tên tuổi, địa chỉ vào một mảnh giấy đỏ, nếu thả rùa thì có thể thẳng lên mai rùa
- Mang ra bờ sông, hồ ngẩng xin trời đất chứng giám, nói rõ nguyện cầu, tên tuổi, địa chỉ.
- Sau đó thả rùa, cá xuống nước (chim thì có thể thả tại nhà), rồi hóa giấy đỏ.
- Lưu ý có lễ nhỏ cúng tại đây cũng được, không có cũng không sao. không dùng rùa tai đỏ, không vứt túi ni lông xuống sông, hồ.

7. VĂN CÚNG CÔ HỒN 

Phần này tôi thấy tác phẩm VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH của cụ Nguyễn Du là hay nhất nên giới thiệu lại cùng bạn đọc. Quý vị có thể cúng cô hồn theo bài sau đây:

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

Toát hơi may lạnh buốt xương khô

Não người thay buổi chiều thu,

Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…

Đường bạch dương bóng chiều man mác,

Dịp đường lê lác đác mưa sa

Lòng nào lòng chẳng thiết tha

Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Có khôn thiêng phảng phất u minh…

Thương thay thập loại chúng sinh

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

Hương lửa đã không nơi nương tựa

Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…

Còn chi ai khá ai hèn

Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi

Muôn nhờ đức Phật từ bi

Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.

oOo

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

Chí những lăm cất gámh non sông

Nói chi những buổi tranh hùng

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở

Khôn đem mình làm đứa thất phu

Giàu sang càng nặng oán thù

Máu tươi lai láng xương khô rụng rời

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa

Cho hay thành bại là cơ

Mà Cô Hồn biết bao giờ cho tan.

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ

Những cậy mình cung quế Hằng Nga,

Một phen thay đổi sơn hà,

Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy

Phận đã đành trâm gãy bình rơi

Khi sao đông đúc vui cười

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đau đớn nhẽ không hương không khói

Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

Thương thay chân yếu tay mềm

Càng năm càng héo một đêm một dài.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

Ngọn bút son thác sống ở tay

Kinh luân găm một túi đầy

Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh

Ngàn vàng khôn đổi được mình

Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

Biết lấy ai bát nước nén nhang?

Cô Hồn thất thểu dọc ngang

Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh?

Kìa những kẻ bài binh bố trận

Đổi mình vào cướp ấn Nguyên Nhung

Gió mưa sấm sét đùng đùng

Phơi thây trăm họ nên công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc

Bãi sa trường thịt nát máu rơi

Mênh mông góc bể chân trời

Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

Khí âm huyền mờ mịt trước sau

Ngàn mây nội cỏ rầu rầu

Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú

Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

Ruột rà không kẻ chí thân

Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

Của phù vân dẫu có như không

Sống thời tiền chảy bạc ròng

Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm

Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy

Dẫn mình vào thành thị lân la

Mấy thu lìa cửa lìa nhà

Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

Dọc hàng quán gặp tuần mưa nắng

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng

Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

Bóng phần tử xa chừng hương khúc

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

Cô Hồn nhờ gửi tha phương

Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,

Cánh buồm mây chạy xế gió đông

Gặp cơn giông tố giữa dòng

Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán

Đòn gánh tre chín dạn hai vai

Gặp cơn mưa nắng giữa trời

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan

Nước khe cơm vắt gian nan

Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

Buổi chiến trận mạng người như rác

Phận đã đành đạn lạc tên rơi

Lập lòe ngọn lửa ma trơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

Ngẩn ngơ khi trở về già

Ai chồng con tá biết là cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

Thương thay cũng một kiếp người

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

Gửi mình vào chiếu rách một manh

Nắm xương chôn rấp góc thành

Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha

Lấy ai bồng bế xót xa

U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

Cũng có người sẩy cối sa cây

Có người leo giếng đứt dây

Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

Người thì mắc sơn tinh thủy quái

Người thì sa nanh sói ngà voi

Có người hay đẻ không nuôi

Có người sa sẩy có người khốn thương.

oOo

Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

Mỗi người một nghiệp khác nhau

Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

Hoặc là nương ngọn suối chân mây

Hoặc là điếm cỏ bóng cây

Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

Hoặc là nương Thần từ, Phật tự

Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

Hoặc là trong quãng đồng không

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre

Sống đã chịu một bề thảm thiết

Ruột héo khô dạ rét căm căm

Dãi dầu trong mấy mươi năm

Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra

Lôi thôi bồng trẻ dắt già

Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe Kinh.

oOo

Nhờ phép Phật siêu sinh Tịnh Độ

Phóng hào quang cứu khổ độ u

Rắp hòa tứ hải quần chu

Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

Chuyển pháp luân tam giới thập phương

Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

Mười loài là những loài nào?

Gái trai già trẻ đều vào nghe Kinh.

Kiếp phù sinh như hình như ảnh

Có chữ rằng: ”Vạn cảnh giai không”

Ai ơi lấy Phật làm lòng

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật Giáo

Của có khi bát cháo nén nhang

Gọi là manh áo thoi vàng

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đây dưới trên ngồi lại

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ

Phép thiêng biến ít thành nhiều

Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ

Chớ ngại rằng có có không không.

Nam-mô chư Phật, Pháp, Tăng

Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

CHÚC CÁC BẠN THÁNG 7 AN LÀNH!

- Phong thủy Nguyễn Hoàng -

PT Tường Minh 01