30 thg 7, 2022

Vu chúc, vu thuật?

Xưa kia, người đức hạnh cầu phúc, nên tuy có tế tự nhưng chỉ là thỉnh thoảng, người nhân nghĩa dưỡng cầu lành, nên tuy có bói toán nhưng cũng thưa thớt thôi.
Đời nay, thế tục buông lỏng việc tu dưỡng mà cầu cạnh quỷ thần, lơ là với lễ mà chăm chỉ cúng bái, coi thường tình thân mà xem trọng quyền thế, hay xằng bậy nhưng lại tin vào ngày tháng, nghe lời nói vu vơ hoang đường mà may được, cho nên mới bỏ vật thực ra mà hưởng lấy cái hư phúc. Chính vì vậy mà phố phường có vu, xóm làng có chúc.
“Vu” là những người thời xưa chuyên hành nghề cầu đảo quỷ thần để bói toán, chiêm tinh, cúng bái, và dùng dược liệu để cầu phúc trừ tai, chữa trị bệnh tật cho con người.
Trên thực tế, họ chính là cầu nối liên hệ giữa con người với thế giới thần linh, là người đàn bà có thể liên hệ với thế giới vô hình bằng lối múa giáng thần. Họ là thế lực duy nhất làm môi giới cho giới thống trị với thần linh trên trời.
Ở họ lại có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà: “đàn ông gọi là hịch, đàn bà gọi là vu”. Về chức phận cũng khác nhau.
Hịch cai quản việc tế vọng tự, vọng diên, thụ hiệu, đứng bên vẫy cỏ ma.
Vọng tự, vọng diên đều là các lễ dùng để tế trời, lễ vật dùng tiền chứ không dùng súc vật, xôi thịt. Hai lễ này như nhau tuy nhiên lễ vật dùng có khác nhau.
Cuối mùa đông, phải làm lễ xua đuổi ôn dịch để tống tiễn những điều không may, việc tế lễ bắt đầu từ nơi làm lễ, vu với thần thông, cho nên bảo phía đông thì tế phía đông, phía tây thì tế phía tây, gần thì tế gần, xa thì tế xa. Mùa đông vẫy cỏ ma, xua đuổi ôn dịch, không hướng nào là không tính đủ.
Mùa xuân cầu an, trừ bệnh tật, điếu vua thì dự khấn trước vong linh. Vu cai quản việc trai giới tắm gội trong lễ cầu phúc trừ tai hàng năm, hạn hán thì múa cầu mưa, điếu vương hậu thì dự khấn trước linh cữu, phàm bang có đại tai thì vừa ca vừa khóc mà khấn cầu.
Đành rằng vạn vật hữu linh, thần tiên ma quỷ không đâu không có, song biết bao chúng sinh trong xã hội bấy giờ ai nấy đều cảm thấy mình nhỏ bé và bất lực trước thế giới tự nhiên mà họ sinh tồn trong sợ hãi, trước xã hội mà họ lập thân khi thân tâm phải gánh vác nặng nề.
Giới thống trị có thể tâng bốc thứ vương quyền trời ban, tự cho rằng mình là con cháu nhà trời, không chịu giáng làm người phàm thì đương nhiên họ cũng có thể liên lạc được với trời đất quỷ thần chứ đâu cần phải nhờ đến vu và vu thuật.
Trong khi đó, đại bộ phận dân chúng vẫn phải trông cậy vào thế lực duy nhất mà họ cho rằng có thể giúp họ liên hệ với một thế giới khác, đó là vu và vu thuật, để cầu xin che chở, để ăn mày phúc lộc, nhằm bù đắp cho sự nhỏ nhoi yếu đuối của bản thân họ. Ngoài điều đó ra, không còn cách giải thích nào khác hơn.
Nước nào chuộng tế tự, dùng sử vu thì phong tục toàn chuyện đồng cốt cúng bái, tin chuyện đồng cốt ma quỷ, trọng việc thờ cúng không chính đáng. Như các cô gái lớn lên, đặc biệt vai trưởng nữ, không được lấy chồng, người nhà bắt phải ở vậy làm chủ tế cho gia đình, gọi là “vu nhi”. Nếu ai dám đi lấy chồng thì gia đình sẽ gặp nhiều bất lợi.
Vu nhi còn gọi là “thi nữ”.
Vào những ngày sinh hoạt cộng đồng thì các vu nhi đều xuất hiện.
Họ ăn mặc diêm dúa, nói cười huyên náo.
Hiện tượng mỗi nhà lập một vu làm chủ tế, cố nhiên chỉ là tục lệ đặc biệt của một địa phương nào đó trong một thời kỳ nào đó mà thôi.
Nhưng ở thời Lưỡng Hán, mỗi một đơn vị thôn xóm đều có vu và vu gia, đó là một thông lệ, phải đặt ra các chức y và vu để chữa trị bệnh tật, trông coi việc tế lễ, cốt để dân chúng yên vui với nơi ở mới mà nảy ra ý sinh sống lâu dài ở đó.
Về sau, thế tục nảy sinh giả dối lọc lừa, vu chúc cúng bái cho dân để lấy lễ lộc, nhờ khua môi múa mép mà có kẻ trở nên giàu có, cho nên những người sợ việc đều rời bỏ bản nghiệp để theo học.
Người ta mới coi các hoạt động đồng cốt, bói toán là hành vi kinh doanh sinh lời và cũng phải nộp thuế như thương nhân, thợ thuyền. Thợ thuyền, lang y, vu chúc, thầy bói và những người buôn bán nhỏ khác bày hàng mở hiệu trong thôn xóm, mỗi nghề đều có vị trí của mình, trừ tiền vốn, tính nguyên tiền lời chia làm mười một phần, nộp thuế một phần.
Vu chúc đã là một nghề nghiệp, một phương tiện mưu sinh thì đương nhiên cũng bị liệt vào hàng “thiên hạ nhốn nháo, đều đổ xô đi kiếm lợi”, và họ cũng thu lợi tới mức tối đa.
Do vậy, “dựa vào quỷ thần để lừa bịp dân chúng”, sách nhiễu quá đáng, phần nhiều là cúng bái quàng xiên, chuộng bói toán, dân toàn tế bằng trâu bò. Vu chúc hạch sách đòi lễ lộc, dân sợ miệng lưỡi họ, sợ họ trù nên không dám phản đối. Điều này gây nên tình trạng một bộ phận dân chúng “khuynh gia bại sản" vì chuyện cúng bái quỷ thần.
Kinh Thi từng mỉa mai hiện tượng “bất tích kỳ ma, nữ dã bà sa”, nghĩa là: đàn bà không lo việc xe đay dệt sợi, mà chỉ múa may cầu cúng. Nay nhiều người không chịu lo chuyện bếp núc, bỏ việc chăn tằm dệt lụa mà đua học vu chúc, múa may cầu thần để lừa bịp trăm họ, mê hoặc muôn dân.
Phụ nữ yếu đuối hoặc nhà có người ốm đau thì thấp thỏm trong lòng, hoang mang, sợ hãi, phải bôn tẩu, rời bỏ cửa nhà, thất thểu bên đường, trên dột dưới ẩm, cảm nhiễm phong hàn, bị kẻ gian lợi dụng, đạo tặc hoành hành.
Họa vô đơn chí, khiến bao người bệnh tình càng nặng thêm. Có người bỏ thuốc thang quay sang cầu cúng, đến khi chết vẫn không biết mình bị lừa, còn hận rằng tìm đến vu chúc quá muộn, thật là mê hoặc chúng sinh quá đỗi.
Giới vu chúc thường lèo lái tráo trở, nhằm đạt được lợi ích về kinh tế. Trong một thời gian nào đó, họ đã góp phần làm cho tục vu chúc trong dân gian trở nên thịnh hành và đạt tới hiệu quả giống như việc truyền giáo vậy.
Tuy nhiên, xét theo góc độ tín đồ và người được truyền bá thì hiệu quả cũng có chỗ khác. Hành động ngang nhiên lừa đảo để kiếm tiền của vu chúc thời Lưỡng Hán chỉ mang tính chất bịp bợm nhất thời, đe dọa nhất thời và đương nhiên cuối cùng nó cũng phải tụt dốc.
Còn tôn giáo thì đằng sau nó dù có mục đích kinh tế hay các mục đích thế tục khác chăng nữa, trước sau vẫn khoác chiếc áo tín ngưỡng nên nó vẫn đạt được những bước phát triển ổn định trong một khoảng thời gian tương đối khá dài.
Kể từ sau thời Đông Hán, sự suy tàn của tục vu chúc cũng như sự hưng thịnh của tôn giáo đều có nguyên nhân liên quan đến điều đó. Đương nhiên, thời Lưỡng Hán vẫn là thời đại hoàng kim của vu và vu thuật.
Vu thuật là một thứ phép thuật lợi dụng “lực lượng siêu nhiên” hư cấu để thực hiện những nguyện vọng nào đó.
Còn thuật “vu cổ” thời Lưỡng Hán thì lại là một loại vu thuật đen tối (hắc vu thuật), đào đất tìm hình nhân, bắt trùng cổ và cúng đêm, rình ma, tưới nước bẩn, thâm độc đến nỗi mà mỗi khi nhắc tới, người ta cảm thấy ghê rợn, đa phần là dùng gỗ làm thành hình người, chôn xuống đất, lấy kim đâm vào để nguyền rủa (thư) cho người đó chết.
Đây là một thủ đoạn của vu sư dùng tà thuật để làm hại người khác. Nó đã bị giới thống trị nghiêm cấm. Thời Lưỡng Hán, giới thống trị thường sử dụng biện pháp tru di cả họ đối với kẻ nào sử dụng thuật vu cổ.
Loại vu thuật dùng hình nhân làm đạo cụ, thực chất là một loại phép thuật dùng hình nhân để gây hại ở buổi cổ sơ ra đời từ thời săn bắn nguyên thủy. Mới đầu, nó chỉ là một hình thức làm phép đối với vật săn trước giờ săn bắt.
Vô đạo, làm hình nhân, gọi đó là thiên thần, đánh bạc với nó, sai người xếp thành hàng. Thiên thần không thắng, bèn bắt nó phải chết nhục. Làm túi da đổ đầy máu vào, treo lên rồi bắn, gọi là bắn trời.
Đó là thuật dùng hình nhân để làm hại rất điển hình. Còn chôn hình nhân dưới lòng đất là có ý để nó bị giày xéo cho chóng chết.
Thông thường, trò ma thuật phổ biến nhất được dùng để ám hại kẻ thù là làm tượng kẻ thù bằng những vật liệu đơn giản.
Tượng giống hay không, không quan trọng, mà chỉ cần thành tượng là được. Sau đó làm tổn hại đến bất cứ bộ phận nào trên bức tượng cũng chính là làm tổn hại đến bộ phận đó trên cơ thể kẻ thù, khiến bộ phận đó sinh bệnh tật.
Tuy nhiên, hình thức ám hại bằng hình nhân chỉ là hình thức chôn hình nhân xuống đất chứ không phải là toàn bộ nội dung thuật vu cổ. Hình thức ám hại bằng hình nhân là hình thức chủ yếu.
Ngoài ra, thuật vu cổ còn bao hàm cả một phép thuật khác thần bí hơn mà nếu tách rời khỏi thứ phép thuật này thì bản thân thuật vu cổ hầu như không còn khiến người ta phải phấp phỏng lo sợ vì nhỡ đâu không tránh kịp, đó là thuật “cổ”.
Song không rõ vì lẽ gì mà khi ghi chép các sự kiện về vu cổ, lại không trình bày tường tận về nội dung này.
“Thế nào gọi là trùng cổ ?”
“Là loài trùng sinh ra do đắm chìm trong mê loạn, cũng chính là cách dùng đồ dựng tạo ra loại trùng cổ, sau đó cho nó vào bụng người khác để hãm hại người ta”.
Vì kẻ nào nuôi trùng cổ độc hoặc truyền bá trùng cổ đều sẽ bị xử giảo. Nên cách làm cụ thể, có lẽ do sợ bị tội truyền bá nhân rộng ra nên không dám ghi vào trong sách vở, tránh trở thành “kẻ truyền bá”.
Cũng vì lẽ, trùng cổ có rất nhiều loại, nên khó có thể cứu xét hết, việc thờ cúng theo tà đạo cũng theo đó mà không thể nào biết được cho tường tận.
Chỉ biết, tục của họ là vào ngày mùng 5 tháng 5, thu thập hàng trăm loại côn trùng, lớn thì kể đến rắn rết, nhỏ thì kể đến chấy rận, rồi bỏ cả vào trong một thứ đồ đựng cho chúng ăn thịt lẫn nhau, khi nào còn một con thì lưu lại, nếu là rắn thì gọi là “xà cổ” (trùng rắn), nếu là chấy rận thì gọi là “sắt cổ” (trùng rận), dùng để giết người.
Cách hãm hại người khác bằng trùng cổ mà dân gian thường dùng chủ yếu thông qua đường ăn uống. Người nào nuốt phải nó vào bụng, nó sẽ ăn ngũ tạng của người đó, người đó chết đi thì gia sản sẽ rơi vào tay người làm chủ con trùng cổ, còn nếu ba năm không giết được người đó thì kẻ nuôi trùng cổ tự dẹp bỏ trò xấu xa của mình.
Lưu truyền gọi nó là quỷ, kỳ thực chỉ là loại côn trùng. Những kẻ chứa trùng cổ khi tận mạng diệt vong, trùng cổ không còn chủ nhân, cũng sẽ bay lượn chạy nhảy ra ngoài cho đến khi chết.
Có thể thấy trùng cổ thực chất là vật phái sinh của tục sùng bái thần linh. Đem các loại trùng cổ bỏ vào một thứ đồ đựng cho chúng tàn sát lẫn nhau, con nào sống được đến giờ phút cuối cùng sẽ trở thành con đại diện.
Nếu con còn sống là con rắn thì gọi là xà cổ, nếu đấy là chấy rận thì gọi là sắt cổ. Cho dù là xà cổ hay sắt cổ thì lúc này nó cũng không còn là bản thân nó như ý nghĩa vốn có, mà nó là tập hợp của các loại côn trùng bị nó ăn thịt, mọi cái linh nghiệm của các con côn trùng độc đều tập trung vào nó.
Chủ nhân nuôi dưỡng nó có nghĩa là anh ta có các loài côn trùng độc. Khi cần thiết, anh ta có thể cho con trùng độc quái đản này vào trong bụng kẻ bị hại, còn con trùng cổ mà anh ta nuôi dưỡng vẫn nằm y nguyên ở chỗ cũ. Như vậy, anh ta có thể sử dụng đi sử dụng lại con trùng cổ.
Nói chung, thuật vu cổ nhằm hãm hại người khác gồm hai loại phép thuật, một là làm hình nhân chôn xuống đất, hai là nuôi trùng độc. Cả hai phép thuật này đều là phương thức để trút mối thù hằn oán hận lên đầu kẻ thù và là loại vu thuật xấu xa điển hình. Cho dù giới thống trị nghiêm cấm, song trong dân gian vẫn tồn tại và lưu truyền mãi về sau.
Ngoài ra, còn có thuật khấn nguyền và thuật giáng thần rất thịnh hành trong dân gian. Tuy nhiên, nó có điểm khác so với thuật vu cổ ở chỗ, nó vừa có tác dụng hãm hại người khác, vừa có tác dụng trừ tai trị tật. Như vậy nó bao hàm cả hai tính chất lành mạnh và không lành mạnh. Đó cũng là nét đặc biệt của hoạt động vu thuật truyền thống.
Thông thường khấn nguyền là một hoạt động vu thuật sử dụng lặp đi lặp lại những từ ngữ nhất định để khấn cáo với quỷ thần, nhằm biểu đạt ý nguyện của mình thông qua một nghi thức nào đó.
Mục đích của việc làm này là tìm đến với thần linh trong tưởng tượng để cầu xin thần linh đáp ứng nguyện vọng của mình, nhằm cầu phúc, trừ tai.
Phần nhiều người ta đều cho rằng vu chúc có thể liên hệ với thần linh thông qua những lời khấn nguyền, những điệu múa giáng thần, cùng với phương thức hi sinh và tế lễ.
Thoạt đầu, thuật khấn nguyền chủ yếu dùng để chữa trị bệnh tật. Chính sự ngu muội và lạc hậu ở thời thượng cổ khiến người ta không nhận thức được nguyên nhân gây bệnh thực sự, mà cho rằng ma quỷ ôn dịch đang tác oai tác quái, và chỉ có nhờ biện pháp khấn nguyền mới đuổi nó đi được, mới chữa khỏi được.
Thời thượng cổ, thầy lang gọi là mao phu. Mao phu làm thầy lang, lấy cây hoàn làm chiếu, lấy hoa phù dung (đảm) làm chó, quay mặt về hướng bắc mà khấn mười lần, những người ốm yếu được dìu đến đều bình phục như cũ. Miêu tả việc trị bệnh bằng phương pháp khấn nguyền của các mao phu, có thể khiến người ốm tưởng như không thể dậy nổi, đã khoẻ dần như ban đầu.
Các quỷ thần được khấn cầu gồm 15 loại.
Tư mệnh, thương quân, nam thương, nữ thương, thủy thượng, hoàng quân, cát (lạp) quân, quách quý nhân, đại phụ mẫu, trượng nhân, quan xã, điền xã, đông bắc quan bảo xã, xuy hưu, đại gia tây nam.
Thầy cầm cây trượng 9 đốt làm bùa chú, bảo bệnh nhân vừa khấu đầu vừa nghĩ đến lỗi lầm của mình. Nhân đó cho người ta uống nước bùa, trên bùa viết tên họ người bệnh, bày tỏ ý phục tội, cầu ba lượt, một lượt cầu trời ở trên núi, một lượt cầu đất, một lượt cầu nước, gọi là tam quan thủ thư.
Người nào bệnh tình thuyên giảm dần hoặc khỏi hẳn thì bảo người đó tin đạo, còn người nào không đỡ thì bảo vì người đó không tin đạo.
Tuy nhiên, trị bệnh chỉ là một trong những mục đích của việc khấn nguyền. Khấn nguyền còn có những mục đích quan trọng khác như nhằm nguyền rủa để thắng người, khuất phục người hoặc vật, làm hại người khác hoặc trút đổ tai họa cho người khác.
Khấn nguyền tức là kêu cầu quỷ thần gieo rắc tai ương tội lỗi, dùng lời nói để kêu cầu quỉ thần gọi là “khấn”, xin quỉ thần gia tai ương là “nguyền”. Một số người thường tìm cách trả thù bằng việc mời vu khấn nguyền nhằm gieo tai ương lên đầu kẻ thù của mình.
Còn thuật giáng thần, thường do những vu chuyên nghiệp tiến hành. Phương thức của nó là khiến vị thần linh trong tưởng tượng nhập thể vào bà vu đang làm phép, nhằm lay động quỷ thần để thực hiện mục đích của mình thông qua những nghi thức nhất định như nhảy múa, niệm chú…
Thuật giáng thần chủ yếu dùng trong ba trường hợp.
Thứ nhất, nhập đồng là cách bổ trợ cho thuật khấn nguyền tăng thêm hiệu lực. Khấn nguyền sau khi nhập đồng là một thứ thuật làm hại được tiến hành trực tiếp. Vì thế cho nên việc giáng thần nhằm đạt mục đích làm hại đối phương chỉ là thủ đoạn bổ trợ, còn khấn nguyền mới là thứ phép thuật hữu hiệu.
Thứ hai là đuổi ma trị bệnh, “ốm do bị quỷ thần nhập vào”, vu khi giáng thần sẽ khiến cho thần quân nhập vào người và mượn sức mạnh của thần quân đuổi ma đi, để chữa khỏi cho người bệnh.
Cách thực hiện bước Vũ, người đứng thẳng, chân phải bước lên trước, chân trái đặt phía sau, sau đó bước lên trước, chân phải để cho chân trái bước theo chân phải, đó là bước thứ nhất. Tiếp đó đặt chân phải lên trước, rồi chân trái lên trước cho chân phải bước theo chân trái, đó là bước thứ hai. Sau đó chân phải lại để chân trái bước theo như trước, đó là bước thứ ba. Như thế là xong cách bước theo kiểu bước Vũ.
Thứ ba là dùng trong tang lễ. Phàm việc tang đều có lễ vu giáng. Giáng là xuống, tức lễ vu nhập đồng. Đời nay người chết vừa liệm xong thì vu giáng đồng, đó là lệ xưa còn lưu lại. Mục đích của hoạt động này là nhằm đuổi tà ma, trừ ôn dịch.
Ngày nay chúng ta không còn được biết về nghi thức giáng thần. Người đẹp, ăn mặc diêm dúa, giỏi ca múa. Đêm đến, khua chuông gõ trống, đàn sáo vang lừng. Cầm dao cứa lưỡi, nuốt dao nhả lửa. Mây mù tan biến, ánh sáng tỏa ra vằng vặc. Ma quỷ nói cười, bay đến cời lửa khơi tro, thù tạc lại qua.
Hội tụ đủ các nội dung ma thuật, tạp kỹ. Riêng vùng Tây Vực, đa dạng, đặc sắc, phong phú hơn nhiều so với những nơi khác.
Thời nào vu thuật thịnh hành, tà đạo càng phát triển. Cho rằng, vạn vật đều có linh hồn, quỷ thần không đâu là không có, nên người ta phải cậy nhờ vào vu và vu thuật liên hệ với quỷ thần nhằm cầu phúc trừ tai hoặc nhằm đạt được một mục đích nào đó. Vì vậy mà vu và vu thuật rất thịnh hành trong đời sống dân gian.
Dẫn đến, Phật giáo và Đạo giáo sau này, dù khá thịnh hành, con người ta ngày càng có nhiều nơi để gửi gắm tinh thần, song vẫn không thể thay thế được ảnh hưởng của vu và vu thuật trong dân gian.
Vì khả năng đe dọa và lôi cuốn mạnh mẽ của nó, đối với lãnh địa tinh thần con người. Thuỵ Du.

PT Tường Minh 01